ASIC and NFAChịu sự giám sát từ ASICNFA
bách khoa toàn thư

Nhà đầu tư phải biết: Giới thiệu về các chỉ số Nasdaq, S&P 500 và Dow Jones (DJ

Thời gian phát hành:2020-08-18 17:02:21  Nguồn:BG

Giá cổ phiếu biến động liên tục theo các sự kiện thị trường. Nhà đầu tư giỏi cần có kỹ năng cần thiết trong việc nắm bắt nhanh chóng tình hình chung của thị trường Chứng khoán Mỹ giữa những làn sóng thay đổi của giá cổ phiếu. Có hàng chục nghìn loại cổ phiếu ở Hoa Kỳ. Vì quá khó để theo dõi xu hướng của từng cổ phiếu riêng lẻ nên nhiều tổ chức và cá nhân sử dụng mẫu khảo sát để đo lường xu hướng toàn bộ thị trường. Mẫu số này là "chỉ số", đại diện cho những thay đổi về giá thị trường của một nhóm cổ phiếu. Chỉ số là một trong những căn cứ được nhiều nhà đầu tư sử dụng để đánh giá thị trường là tốt hay xấu và có nên tham gia thị trường hay không.
 
Các chỉ số chứng khoán được biết đến nhiều nhất trên thị trường chứng khoán Mỹ hiện nay bao gồm Chỉ số tổng hợp Nasdaq (NASDAQ), Chỉ số Standard & Poor's 500 (S&P 500), Chỉ số tổng hợp công nghiệp Dow Jones (DJ 30).
Tuy nhiên nhà đầu tư giải thích thế nào về biến động của các chỉ số này? Để hiểu rõ hơn về cơ chế thị trường, BG sẽ chia nhỏ các đặc điểm của từng chỉ số này, đồng thời tiến hành tìm hiểu sự khác nhau và giống nhau giữa các chỉ số.

1. Chỉ số tổng hợp Nasdaq (The Nasdaq): chỉ số chứng khoán do các công ty công nghệ chiếm phần lớn
 
NASDAQ (NASDAQ: NDAQ) là một sàn giao dịch chứng khoán, tương tự như Sở giao dịch chứng khoán New York. Trên thực tế, đây là sàn giao dịch chứng khoán điện tử hóa đầu tiên.
Nhưng đó không phải là những gì chúng ta đang thảo luận ở đây. Những gì tôi sẽ đề cập ở đây: Chỉ số tổng hợp Nasdaq, là một chỉ số thị trường tổng hợp giá của một số cổ phiếu được giao dịch công khai nhất định. Chỉ số tổng hợp Nasdaq được tính toán dựa trên hơn 4.000 cổ phiếu giao dịch trên sàn chứng khoán Nasdaq. Mặc dù sự có sự khác biệt nhưng chúng dễ gây nhầm lẫn.
 
Hiểu đơn giản nhất về chỉ số NASDAQ là: chỉ số chứng khoán do các công ty công nghệ chi phối. Chỉ số NASDAQ được thành lập lần đầu tiên vào năm 1971. Chỉ số được tính toán từ 50 công ty với giá trị khởi điểm là 100 điểm. Hiện tại con số là hơn 7.000 điểm. 40% đến 50% cổ phiếu cấu thành là các công ty công nghệ, chỉ số cũng gồm các ngành tiêu dùng, chăm sóc sức khỏe và tài chính.
 
Các nhà đầu tư quan tâm đến cổ phiếu công nghệ phải hiểu rằng chỉ số NASDAQ có thể nói là thiên đường cổ phiếu công nghệ; chỉ số NASDAQ (NASDAQ) là chỉ số trọng số vốn hóa thị trường của tất cả các cổ phiếu được giao dịch trên sàn giao dịch này. Tổng hợp đến 5200 cổ phiếu. Chỉ số tổng hợp Nasdaq (NASDAQ) chủ yếu bao gồm hàng trăm công ty công nghệ, viễn thông và sinh học tiên tiến đang phát triển nhanh chóng ở Hoa Kỳ cũng như trong lĩnh vực tài chính, công nghiệp, bảo hiểm. Cổ phiếu của các ngành như giao thông và vận tải cũng đang dần trở thành tiêu chuẩn tham chiếu cho “nền kinh tế mới” ở Hoa Kỳ. Chỉ số Nasdaq trở thành chỉ số tích cực nhất trong bốn chỉ số chính. Hiện tại, Apple Co. (AAPL) có tỷ trọng cao nhất.
 
Giống như Standard & Poor's, Nasdaq cũng được tính theo giá trị vốn hóa thị trường, nhờ đó tránh được một số tình huống định giá kỳ lạ trong chỉ số Dow Jones.
 
2. Chỉ số Standard & Poor's 500 (S&P 500):
 
Thành phần bao gồm 500 cổ phiếu có khối lượng giao dịch lớn nhất. Tên tiếng Anh đầy đủ của Standard & Poor's 500 Index là Standard & Poor's 500, S&P 500 Index. Đây là một trong những chỉ số lâu đời và tiêu biểu nhất trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, đồng thời cũng là chỉ số mà hầu hết các nhà đầu tư sẽ tham khảo. Chỉ số Standard & Poor's 500 còn được gọi là "S&P 500". 500 công ty được đề cập đều được niêm yết trên các sàn giao dịch lớn của Hoa Kỳ. Các công ty hiện đang được niêm yết trên các sàn giao dịch New York Stock Exchange và Nasdaq.  Hiện tại Microsoft Corp. (MSFT) có tỉ trọng cao nhất.
 
So với Chỉ số Dow Jones, Chỉ số S&P 500 bao gồm 500 cổ phiếu có khối lượng giao dịch lớn nhất ở Hoa Kỳ, chiếm 80% tổng giá trị của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Nói một cách tương đối, đây là một chỉ số lớn hơn và đa dạng hơn. Có thể phản ánh chính xác hơn xu hướng của thị trường chứng khoán Mỹ, đồng thời phản ánh khách quan những thay đổi trên thị trường, bám sát với bức tranh chung của thị trường.
 
Một công ty có thể nằm trong danh sách của Chỉ số S&P 500 phải đáp ứng các điều kiện nhất định: cổ phiếu của công ty đó phải có số lượng nhất định và đủ tính thanh khoản trên thị trường. Giá trị vốn hóa thị trường của công ty phải từ 5 tỷ đô la Mỹ trở lên. Tỷ lệ giao dịch cổ phiếu công khai phải đạt ít nhất 50%.
 
S&P 500 cũng phản ánh sự đa dạng của Sở giao dịch chứng khoán New York và Nasdaq. Nếu 10% các công ty lớn tham gia vào lĩnh vực sản xuất, thì Standard & Poor's sẽ cố gắng duy trì tỷ lệ các công ty sản xuất ở mức 10%. Có hai điểm khác biệt rõ ràng nhưng đáng chú ý khác giữa S&P 500 và Chỉ số Dow Jones:
 
Thứ nhất là số lượng cổ phiếu cấu thành. Dow Jones có 30, trong khi S&P 500 có 500. Standard & Poor's có thước đo thị trường rộng hơn và chiếm tỷ trọng lớn hơn trong nền kinh tế Hoa Kỳ. Nói cách khác, giá trị vốn hóa thị trường của cổ phiếu thay đổi càng thấp thì tác động của các cổ phiếu này lên chỉ số càng nhỏ. Trong nhiều trường hợp, mối quan hệ giữa Chỉ số Dow Jones và Chỉ số S&P 500 là  không thể tách rời.
 
Thứ hai, không giống như Dow Jones, Standard & Poor's không có trọng số giá cả. Thay vào đó, nó được tính dựa trên trọng số quy mô thực tế của công ty trên thị trường, điều này tránh được vấn đề xảy ra đối với chỉ số DJ30 là khi giá cổ phiếu có biến động tương đối lớn hay giá trị thị trường của cổ phiếu tương đối thấp. Cả hai sự khác biệt này làm cho Chỉ số S&P ít bị biến động hơn Chỉ số Dow Jones.
 
3. Chỉ số Dow Jones: bao gồm 30 công ty lớn
 
Chỉ số Trung bình Công nghiệp Dow Jones (DJIA) là chỉ số quan trọng ,nổi tiếng và được tham khảo nhiều nhất. Chỉ số có lịch sử lâu đời nhất và là chỉ số thị trường chứng khoán chính được các nhà đầu tư nhắc đến nhiều nhất. Chỉ số này chỉ bao gồm 30 công ty lớn. Các công ty này đại diện cho nhiều doanh nghiệp Mỹ, từ định hướng người tiêu dùng đến ngành công nghiệp B2B, công nghệ đến sản xuất, nội địa đến quốc tế và mọi thứ khác.
 
Có hai khái niệm về chỉ số Dow Jones rất phổ biến. Thứ nhất, các công ty trong chỉ số này là rất lớn, cộng gộp lại có thể đủ để đại diện cho nền kinh tế Hoa Kỳ. Vì vậy, mặc dù có hàng nghìn công ty niêm yết nhưng những công ty lớn này có đủ sức ảnh hưởng để làm rung chuyển toàn bộ nền kinh tế, đồng thời có thể đại diện thích hợp cho nền kinh tế Mỹ.
 
Thứ hai, các công ty thành phần của chỉ số Dow Jones gần như là những cái tên quen thuộc. Các công ty như Coca-Cola (NYSE: KO), McDonald's hay IBM, các nhà đầu tư biết rằng những công ty này là giao dịch thực sự, với quy mô và tình trạng không thể lay chuyển trong nền kinh tế Mỹ, và những công ty này có thể đại diện chính xác cho toàn bộ thị trường.
 
Chỉ số Công nghiệp Dow Jones (DJIA) chiếm 1/4 giá trị của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Đối với các nhà đầu tư, những thay đổi trong Chỉ số Dow Jones cũng thể hiện những thay đổi trong kỳ vọng của họ về lợi nhuận tương lai và rủi ro của các công ty lớn. Tuy nhiên, cách tính chỉ số theo “tỷ trọng giá cổ phiếu” cũng thể hiện: giá cổ phiếu càng cao thì tỷ trọng càng cao. Việc lựa chọn cổ phiếu chỉ số Dow Jones không dựa trên phương pháp định lượng, mà là công ty phải có danh tiếng tốt, đại diện cho ngành và khơi dậy sự quan tâm lớn từ các nhà đầu tư để được chọn trở thành cổ phiếu cấu thành chỉ số Dow Jones. Trong ba chỉ số chính,các điều kiện sàng lọc của Chỉ số Dow Jones được xem là chủ quan nhất.
 



BGLưu ý: Tất cả các ý kiến, tin tức, nghiên cứu, phân tích, giá cả hoặc dữ liệu khác trong tài liệu này chỉ dành cho bình luận thị trường chung và không cấu thành bất kỳ tư vấn đầu tư riêng nào. Chúng tôi sẽ không chịu bất kỳ tổn thất, thiệt hại nào hoặc lãi lỗ có thể xảy ra do việc sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp dữ liệu trên trong giao dịch. Qúy khách hàng lưu ý đầu tư chắc chắn sẽ có rủi ro.